Tiếp nối chuỗi hội thảo tổng kết mô hình Canh tác cà phê thông minh niên vụ 2025–2026 tại Đắk Lắk, ngày 7/11/2026, tại xã Ea Kar, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền tổ chức Hội thảo tổng kết mô hình “Canh tác cà phê thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu”. Tham dự có TS. Tôn Nữ Tuấn Nam – Trưởng ban cố vấn Chương trình Canh tác cà phê thông minh; đại diện lãnh đạo Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk, chính quyền địa phương, Công ty TNHH MTV Cà phê 52 – đơn vị liên kết tiêu thụ – cùng đông đảo nông dân trồng cà phê trong vùng.
Hội thảo tổng kết mô hình Canh tác cà phê thông minh tại xã Ea Kar, Đắk LắkĐất xám bạc màu – bài toán khó của Ea Kar
Khác với đất đỏ bazan ở Buôn Hồ hay Buôn Ma Thuột, cà phê ở Ea Kar phần lớn trồng trên đất xám bạc màu hình thành từ đá granit và phù sa cổ. Kết quả phân tích đất ba vườn mô hình do WASI thực hiện trước khi triển khai cho thấy đất rất chua (pHKCl trung bình 4,0), chất hữu cơ chỉ khoảng 1,9% – chưa bằng một nửa mức bình quân của tỉnh – và lân dễ tiêu trung bình 3,7 mg P2O5/100 g đất, có vườn chỉ 1,7 mg. Đất chua mạnh khiến lân bón vào bị sắt, nhôm cố định, cây “đói lân” dù vẫn được bón phân; bộ rễ kém phát triển, quả non rụng nhiều trong mùa mưa dầm và cây kiệt sức sau thu hoạch. Với nền đất như vậy, bón thêm đạm khoáng không giải quyết được vấn đề – phải bắt đầu từ cải tạo đất.
TS. Tôn Nữ Tuấn Nam – Trưởng ban cố vấn chương trình – kiểm tra vườn mô hình
Cà phê lô mô hình vào kỳ chín, quả chắc, đều
Cải tạo đất trước, bón phân sau
Mô hình được thực hiện tại ba hộ – bà Cao Thị Loan, bà Trần Thị Hiền và ông Lê Huy Hồng – mỗi hộ 0,5 ha lô mô hình và một lô đối chứng liền kề chăm sóc theo tập quán. Lô mô hình bón 600 kg/ha phân Đầu Trâu Cân bằng đất giàu canxi, magiê, silic, kẽm, bo và 1.440 kg/ha phân hữu cơ dưỡng rễ để nâng pH, phục hồi keo đất và hệ vi sinh vùng rễ; NPK chuyên dùng Đầu Trâu bón theo giai đoạn tăng trưởng và chắc hạt với lượng điều chỉnh theo kết quả phân tích đất – tổng lượng đạm khoáng không tăng, nhưng lân hữu hiệu tăng gần 20%. Hai lượt phân bón lá trong tháng 7–8 hỗ trợ cây giữ quả giữa mùa mưa.
Kết quả theo dõi trên cùng cành, cùng cây cố định cho thấy khác biệt rõ và nhất quán ở cả ba vườn: tỷ lệ rụng quả sinh lý giảm từ 14,2% xuống 11,2% (giảm 21%), số đốt dự trữ tăng 11%, năng suất nhân dự kiến cao hơn lô đối chứng 10% và cao hơn mức bình quân ba năm trước của chính các vườn này. Đến tháng 9, lô mô hình không còn ghi nhận rệp sáp hại quả và bệnh vàng lá thối rễ, trong khi lô đối chứng vẫn nhiễm từ nhẹ đến trung bình – dấu hiệu cho thấy nâng pH và phục hồi hoạt lực sinh học của đất đã hạn chế tuyến trùng và nấm hại rễ.
Một nông dân tham gia mô hình chia sẻ tại hội thảo: “Vườn nhà tôi đã 9 năm tuổi. Năm nay áp dụng phân bón Bình Điền thấy nhân quả chắc hơn, dự kiến năng suất đạt hơn so với vụ trước và hơn lô đối chứng bên cạnh.”
Đại biểu, cán bộ kỹ thuật và nông dân tại mô hình Canh tác cà phê thông minh xã Ea Kar
Liên kết tiêu thụ: nông dân không đi một mình
Điểm khác biệt của mô hình Ea Kar không chỉ nằm ở quy trình bón phân mà ở cách tổ chức. Ba hộ nòng cốt được Trung tâm Khuyến nông lựa chọn, tập huấn và theo dõi suốt vụ bằng nhật ký nông hộ; WASI phân tích đất, đánh giá sâu bệnh và ước tính năng suất; Bình Điền cung cấp giải pháp dinh dưỡng, cán bộ kỹ thuật bám vườn và chia sẻ chi phí vật tư; Công ty TNHH MTV Cà phê 52 – doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn, nơi các hộ mô hình là công nhân nhận khoán vườn – liên kết tiêu thụ sản phẩm của mô hình. Mỗi mắt xích làm đúng phần việc của mình, và người trồng cà phê – vốn quen tự xoay xở từ mua phân đến bán cà phê – có cả một chuỗi đứng phía sau.
Ông Đỗ Đức Vinh, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV Cà phê 52, nhìn nhận: “Trước đây, bà con thường quen tập quán bón nhiều phân đơn, chi phí đội lên cao nhưng đất lại ngày càng chai cứng, rễ cây kém phát triển. Khi tiếp cận quy trình canh tác cà phê thông minh, việc bón phân đúng chủng loại, đúng thời điểm và có kỹ thuật lấp đất đã giúp tiết giảm đáng kể lượng phân bón thất thoát. Đổi lại, cây khỏe, tỷ lệ rụng quả sinh lý giảm hẳn, tỷ lệ quả chín đồng đều hơn.”
Về phía doanh nghiệp, ông Vinh cho biết Công ty cam kết thu mua toàn bộ sản lượng cà phê quả tươi đạt chuẩn chất lượng từ mô hình với mức giá ổn định và ưu đãi: “Khi doanh nghiệp và công nhân cùng chia sẻ trách nhiệm kỹ thuật và lợi ích kinh tế, chuỗi liên kết mới thực sự bền vững.”
Với người trồng cà phê, giá trị của liên kết nằm ở chỗ rất cụ thể: biết đất mình thiếu gì trước khi bón, có người hướng dẫn khi vườn gặp sâu bệnh, và quan trọng nhất là biết trước hạt cà phê làm ra sẽ bán cho ai, với giá nào. Các hộ tham gia cho biết rất an tâm khi được doanh nghiệp liên kết thu mua – đây là động lực để họ kiên trì ghi chép nhật ký, bón phân đúng quy trình và quản lý dịch hại theo hướng dẫn thay vì phun theo tập quán. Mô hình tạo ra vòng xoay có lợi cho cả hai phía: chất lượng quả tăng, quả chín đồng đều, chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm – nông dân bán được giá tốt hơn, doanh nghiệp có nguyên liệu đạt chuẩn và nhật ký canh tác đầy đủ để tiến tới chứng nhận chất lượng, truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Cách tổ chức này còn mang lại lợi ích môi trường đo đếm được. Ước tính theo phương pháp của IPCC từ lượng phân, nhiên liệu và thuốc bảo vệ thực vật ghi trong nhật ký, phát thải khí nhà kính của lô mô hình giảm 44% trên mỗi hecta và giảm 49% trên mỗi tấn cà phê nhân so với đối chứng, chủ yếu nhờ tiết kiệm nhiên liệu tưới và sử dụng phân khoáng hiệu quả hơn. Đó là cơ sở để cà phê Ea Kar tham gia các chuỗi giá trị yêu cầu dấu chân carbon thấp.
Nông dân tham gia mô hình cùng cán bộ chương trình tại vườn
Chùm quả dày trên cành cà phê lô mô hình
Lợi nhuận tăng 15,5 triệu đồng/ha, an toàn khi giá biến động
Chi phí đầu tư của lô mô hình cao hơn đối chứng 9,2 triệu đồng/ha do bổ sung phân cân bằng đất và hữu cơ dưỡng rễ, nhưng công lao động thấp hơn và doanh thu tăng 24,7 triệu đồng/ha. Ở giá 95.000 đồng/kg, lợi nhuận dự kiến của lô mô hình cao hơn đối chứng 15,5 triệu đồng/ha (+8,9%); mỗi đồng chi thêm mang về 2,68 đồng doanh thu. Khi giá cà phê giảm còn 85.000 đồng/kg, mô hình vẫn lãi hơn đối chứng 12,9 triệu đồng/ha – nghĩa là hiệu quả không phụ thuộc vào giá cao. Số liệu thực thu sẽ được xác định sau thu hoạch.
Nông dân trồng cà phê trong vùng tham dự hội thảo tổng kết
Từ cụm mô hình đến Hội thi Nhà nông đua tài 2027
Ea Kar là một trong 16 cụm mô hình của Chương trình Canh tác cà phê thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu do Bình Điền phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, WASI và trung tâm khuyến nông các tỉnh nhân rộng trong niên vụ này trên 48 vườn tại Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sơn La và một số địa phương khác. Nông dân của 16 cụm sẽ là lực lượng nòng cốt của 16 đội thi tại Hội thi Nhà nông đua tài trong khuôn khổ Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 10 năm 2027, nơi kết quả mô hình – năng suất, hiệu quả, giảm phát thải và khả năng lan tỏa – được Ban cố vấn chuyên môn đánh giá.
Từ ba vườn cà phê trên đất xám Ea Kar, bài học rút ra rất rõ: kỹ thuật đúng làm chất lượng tăng và chi phí giảm, còn liên kết tiêu thụ biến lợi thế đó thành thu nhập ổn định cho người trồng. Khi khuyến nông, nhà khoa học, doanh nghiệp phân bón và doanh nghiệp tiêu thụ cùng đi với người trồng cà phê, canh tác thông minh không còn là mô hình trình diễn mà trở thành cách làm bền vững của cả vùng.
ThS. Hồ Thế Huy















